Thứ bẩy, ngày 02-08-2014
Công cụ làm việc cá nhân


THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ CHDCND TRIỀU TIÊN VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM - TRIỀU TIÊN

I. CÁC VẤN ĐỀ CHUNG:

Tên nước: Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Democratic People's Republic of Korea).

Thủ đô: Bình Nhưỡng (Pyong Yang, hơn 2 triệu dân).

Vị trí địa lý: Nằm ở nửa Bắc bán đảo Triều Tiên; Đông và Tây giáp biển; Bắc giáp Trung Quốc (1300 km) và Nga (16 km); phía Nam là giới tuyến quân sự với Hàn Quốc chạy theo vĩ tuyến 380 Bắc.

Khí hậu: Ôn đới.

Diện tích: 122.762 km2 (toàn bán đảo: 222.209 km2).

Dân số: 23,62 triệu người (tháng 4 năm 2004).

Dân tộc: Một dân tộc Triều Tiên.

Ngôn ngữ: Tiếng Triều Tiên .

Tôn giáo: Có đạo Phật, đạo Thiên chúa, Thanh đạo giáo, nhưng hầu như không hoạt động.

Tiền tệ: Đồng Won Triều Tiên.

Quốc khánh: 09/9/1948.

Tên các vị lãnh đạo chủ chốt hiện nay:

+ Kim Châng In (Kim Jong Il): Tổng Bí thư Đảng Lao động Triều Tiên (từ 08/10/97), Chủ tịch Uỷ ban quốc phòng nước CHDCND Triều Tiên (4/1993), Tư lệnh tối cao quân đội nhân dân Triều Tiên (4/1992); là con trai Chủ tịch Kim Nhật Thành.

+ Kim Yêng Nam (Kim Yong Nam): Chủ tịch Uỷ ban thường vụ Hội nghị Nhân dân tối cao, đại diện Nhà nước về đối ngoại.

+ Chuê The Bôc (Choe Thae Bok): Chủ tịch Hội nghị Nhân dân tối cao (Quốc hội).

+ Kim Yơng In (Kim Yong Il): Thủ tướng Nội các (Từ ngày 11/4/2007).

+ Pac Ưi Chun (Pac Ui Chun): Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (Từ ngày 18/5/2007).

II. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ, ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI:

Triều Tiên có gần 5.000 năm lịch sử.

Năm 2333 trước Công nguyên, nước Triều Tiên (Choson) cổ ra đời, tồn tại khoảng 1000 năm, liên tiếp bị nhà Chu, nhà Hán xâm lược.

Từ năm 57 trước Công nguyên, 3 nhà nước phong kiến mới lần lượt hình thành là Kokuryo, Pekche và Shilla. Năm 668, Shilla thôn tính Kokuryo và Pekche, lập nên triều đại Shilla, kéo dài ngót 3 thế kỷ (668-918). Từ 918-1392 vua Wang Kon lập ra nước Koryo (Cao ly), lấy thủ đô là Keseong. Từ 1392-1910 vua Ly Sơng Kiê lập ra nước Choson (Triều Tiên), rời đô về Seoul (1394). Bán đảo Triều Tiên được thế giới biết đến từ triều đại Koryo (tên nước Koryo được phiên âm quốc tế là Korea).

Năm 1910, Nhật Bản thôn tính Triều Tiên. Năm 1945, Triều Tiên được giải phóng nhưng đất nước bị chia cắt làm hai miền, lấy vĩ tuyến 380 Bắc làm ranh giới. Cuộc chiến tranh Triều Tiên 1950-1953 kết thúc, CHDCND Triều Tiên và Mỹ ký Hiệp định đình chiến năm 1953.

III. CHÍNH TRỊ:

1) Thể chế nhà nước: Theo chế độ xã hội chủ nghĩa. Đảng Lao động Triều Tiên lãnh đạo xã hội, lấy tư tưởng Chủ thể làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động.

Kỳ họp thứ nhất Hội nghị nhân dân tối cao khóa 10 tháng 9/1998 đã sửa Hiến pháp, Chủ tịch Kim Nhật Thành được suy tôn là Chủ tịch nước vĩnh viễn.

Các cơ quan lãnh đạo nhà nước gồm:

+ Uỷ ban Quốc phòng, Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Nhà nước Kim Châng In giữ vai trò lãnh đạo tối cao của đất nước.

+ Hội nghị Nhân dân tối cao là cơ quan lập pháp cao nhất. Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Hội nghị Nhân dân tối cao đại diện cho Nhà nước về mặt đối ngoại.

+ Nội các là cơ quan hành pháp.

+ Toà án TƯ và Viện Kiểm sát TƯ là các cơ quan tư pháp cao nhất.

2) Các đảng chính trị: Đảng Lao động Triều Tiên là Đảng cầm quyền, thành lập ngày 10/10/1945. Từ năm 1980, không tiến hành Đại hội Đảng.

IV. KINH TẾ:

1) Khái quát chung: Triều Tiên rất giàu tài nguyên thiên nhiên.

Từ những năm 1960 đến đầu những năm 1990, Triều Tiên tranh thủ viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Sau khi Liên Xô tan rã, Triều Tiên gặp nhiều khó khăn.

Từ tháng 7/2002, Triều Tiên thực hiện một số điều chỉnh chính sách giá, lương tiền để khắc phục khó khăn về kinh tế.

Trong năm 2005, 2006, Triều Tiên chủ trương chú trọng và tập trung vào phát triển nông nghiệp, coi đây là mặt trận chủ đạo để phát triển nền kinh tế quốc dân. Gần đây, kinh tế tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thiếu lương thực và năng lượng nghiêm trọng.

2) Một số số liệu về kinh tế gần đây:

Tăng trưởng kinh tế: 2000: 1,3%; 2001: 3,7%; 2002: 1,2%, 2003: 1,8%, 2004: 2,2%

Năm 2004, nông nghiệp tăng 2,5% (đạt khoảng 4,25 tấn lương thực); khai thác mỏ tăng 21,3%; thuỷ điện tăng 17%; kim ngạch buôn bán của Triều Tiên với 3 nước bạn hàng lớn nhất Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản đạt 2,012 tỷ USD, chiếm 64,5% tổng kim ngạch ngoại thương của Triều Tiên (3,115 tỷ USD).

Năm 2005, sản lượng nông nghiệp đạt khoảng 4,8 triệu tấn lương thực, năm 2006 là 4 triệu tấn.

V. ĐỐI NGOẠI:

Cho đến nay, Triều Tiên đã lập quan hệ ngoại giao với khoảng 145 nước.

Quan hệ Triều Tiên-Trung Quốc: Chủ tịch Kim Châng In thăm không chính thức Trung Quốc 2 lần trong vòng 1 năm (5/2000 và 1/2001); Thủ tướng Triều Tiên Pac Bông Chu thăm Trung Quốc (3/2005). Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân thăm Triều Tiên tháng 9/2001. Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc Ngô Bang Quốc thăm Triều Tiên (10/2003), Chủ tịch Kim Châng In thăm làm việc Trung Quốc (4/2004). Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào thăm Triều Tiên tháng 10/2005. Chủ tịch Kim Châng In thăm không chính thức Trung Quốc (1/2006), Ngoại trưởng Baek Nam Sun thăm thăm Trung Quốc (30/5-6/6/06). Viện trợ của Trung Trung Quốc cho Triều Tiên năm 2000 là 27,5 triệu USD, năm 2001 là 70 triệu USD. Trung Quốc là bạn hàng lớn nhất của Triều Tiên, năm 2004, kim ngạch thương mại hai chiều đạt 1,2 tỷ USD, đầu tư của Trung Quốc vào Triều Tiên là 88 triệu USD.

Quan hệ Triều-Mỹ: Tiếp tục trong tình trạng căng thẳng. Năm 2004, Hạ viện Mỹ thông qua luật nhân quyền chống Triều Tiên với ngân sách 24 triệu USD hỗ trợ cho việc tái định cư những người bỏ trốn khỏi đất nước và các hoạt động thúc đẩy "nhân quyền" ở Triều Tiên. Gần đây, Mỹ tiếp tục gây sức ép nhiều mặt với Triều Tiên như cấm vận tài chính; nhận người tị nạn Triều Tiên....

Thực hiện Thoả thuận 13/2/2007, Triều Tiên và Mỹ đã đàm phán cấp Thứ trưởng về bình thường hóa quan hệ tại New York (5-6/3/2007).

Quan hệ Triều Tiên-Liên bang Nga: hai bên đã ký lại Hiệp ước Hợp tác Hữu nghị tháng 2/2000. Tổng thống V. Putin thăm Triều Tiên tháng 7/2000, Chủ tịch Kim Châng In thăm Nga tháng 8/2001. Bộ trưởng Ngoại giao Nga thăm Triều Tiên tháng 7/2004, Chủ tịch Thượng viện Nga thăm Triều Tiên tháng 9/2004…

Triều-Nhật: Hai bên ký Tuyên bố chung Bình Nhưỡng tháng 9/2002 trong chuyến thăm Triều Tiên của Thủ tướng Nhật Bản Koizumi nhằm thúc đẩy bình thường hoá quan hệ hai nước. Hiện nay, quan hệ hai nước căng thẳng do vấn đề người Nhật bị Triều Tiên bắt cóc và vấn đề quá khứ lịch sử.

Vấn đề hạt nhân của Triều Tiên: Từ năm 1992, do nghi ngờ Triều Tiên sản xuất vũ khí hạt nhân, Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản cùng với phương Tây gây sức ép đòi thanh tra toàn diện công nghệ hạt nhân của Triều Tiên.

Mỹ và Triều Tiên đã ký Thoả thuận khung 10/1994 tại Genève giải quyết vấn đề này, hai bên thoả thuận Mỹ sẽ trang bị lò phản ứng hạt nhân nước nhẹ (qua Tổ chức KEDO) để cung cấp năng lượng cho Triều Tiên, đổi lấy việc Triều Tiên ngừng chương trình phát triển hạt nhân.

Để giải quyết vấn đề hạt nhân của Triều Tiên, ngày 22-25/4/2003, cuộc đàm phán 3 bên (gồm Mỹ, Triều Tiên, Trung Quốc) đã được tổ chức tại Bắc Kinh.

Đàm phán 6 bên (Triều Tiên, Hàn Quốc, Mỹ, Trung Quốc, Nga và Nhật Bản) vòng 1 (27-29/8/03), vòng 2 (25-28/2/04) và vòng 3 (23-26/6/04) đã được tiến hành tại Bắc Kinh. Đàm phán 6 bên vòng 4 (giai đoạn 1: 26/7-7/8/05; giai đoạn 2: 13-19/9/05) đã đạt kết quả quan trọng. Các bên ra Tuyên bố chung ngày 19/9/2005 với nội dung chính là các bên khẳng định thực hiện có tính nguyên tắc về các vấn đề then chốt: Triều Tiên cam kết từ bỏ tất cả vũ khí hạt nhân và các kế hoạch hạt nhân hiện thời; Mỹ khẳng định tôn trọng chủ quyền của Triều Tiên, không triển khai vũ khí hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên và không có ý định tấn công Triều Tiên và sẽ thảo luận vấn đề xây dựng các lò phản ứng nước nhẹ cho Triều Tiên vào thời điểm thích hợp.

Vòng 5 (giai đoạn 1) đã diễn ra tại Bắc Kinh từ ngày 9-11/11/2005 với mục tiêu chính là bàn các biện pháp và bước đi cụ thể để thực hiện Tuyên bố chung ngày 19/9/2005. Triều Tiên yêu cầu Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận, đồng thời ngừng cáo buộc nước này phát triển vũ khí và làm USD giả. Mỹ khẳng định lại lập trường không bàn đến vấn đề lò nước nhẹ khi Triều Tiên chưa từ bỏ chương trình hạt nhân…

Sau vụ Triều Tiên phóng thử tên lửa (5/7/2006) và vụ thử hạt nhân dưới lòng đất (9/10/2006), Hội đồng Bảo an LHQ đã thông qua Nghị quyết 1695 (15/7/2006) và Nghị quyết 1718 (14/10/2006) trừng phạt Triều Tiên.

Giai đoạn 2 Vòng 5 đàm phán 6 bên đã diễn ra tại Bắc Kinh từ ngày 18-22/12/2006.

Tại giai đoạn 3 vòng 5 đàm phán 6 bên về vấn đề hạt nhân của Triều Tiên tổ chức tại Bắc Kinh (8-13/2/2007), các bên đã thông qua Tuyên bố chung ngày 13/2/2007 (còn gọi là Thoả thuận 13/2) với nội dung cơ bản là Triều Tiên sẽ bắt đầu những động thái ngừng hoạt động các cơ sở hạt nhân hướng tới phi hạt nhân hoá bán đảo Triều Tiên, đổi lại các nước sẽ cung cấp năng lượng hoặc các khoản viện trợ tương đương cho Triều Tiên; Mỹ đưa Triều Tiên ra khỏi danh sách các quốc gia tài trợ khủng bố và dỡ bỏ các chế tài tài chính đối với Triều Tiên; thành lập 5 nhóm làm việc về phi hạt nhân hoá bán đảo Triều Tiên, viện trợ kinh tế và năng lượng cho Triều Tiên, xây dựng một khuôn khổ hòa bình cho bán đảo Triều Tiên và an ninh Đông Bắc Á, bình thường hóa quan hệ Triều-Mỹ, bình thường hoá quan hệ Triều-Nhật.

Quan hệ hai miền Triều Tiên:

Triều Tiên chủ trương thống nhất bằng việc thực hiện phương án thành lập Liên bang Cao Ly, do Cố Chủ tịch Kim Nhật Thành nêu ra năm 1980 với phương thức một nhà nước, một dân tộc, hai chính phủ, hai chế độ, trong khi Hàn Quốc chủ trương thống nhất với phương thức một nhà nước, một chế độ theo 3 giai đoạn.

Từ đầu năm 2000, tình hình bán đảo Triều Tiên phát triển theo hướng hoà dịu, giao lưu, hợp tác. Tổng thống Hàn Quốc Kim Te Chung đã thăm Bình Nhưỡng (6/2000), tiến hành cuộc gặp thượng đỉnh liên Triều đầu tiên, ra Tuyên bố chung 5 điểm khẳng định vấn đề thống nhất Triều Tiên do người Triều Tiên giải quyết, thống nhất đất nước theo hướng lập liên bang; giải quyết ngay các vấn đề nhân đạo; tạo sự phát triển cân bằng kinh tế giữa hai miền, tăng cường giao lưu về xã hội, văn hoá, y tế môi trường; tiếp xúc thường xuyên giữa các quan chức hai miền.

Gần đây, tiến trình hợp tác, hoà giải, hoà hợp dân tộc giữa hai miền Triều Tiên được duy trì và đẩy mạnh. Hai bên tăng cường các hoạt động trao đổi đoàn các cấp: Thủ tướng Hàn Quốc và Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Hội nghị nhân dân tối cao Triều Tiên đã gặp nhau bên lề Hội nghị Băng Đung (4/2005), Bộ trưởng Thống nhất Hàn Quốc thăm Triều Tiên, Bí thư TƯ Đảng Triều Tiên Kim Ki Nam thăm Hàn Quốc dự lễ kỷ niệm 60 năm ngày Giải phóng (8/05), Uỷ ban hợp tác kinh tế liên Triều họp lần thứ 10 (7/05), họp cấp Bộ trưởng liên Triều lần thứ 16 tại Bình Nhưỡng (9/05), tổ chức Chương trình đoàn tụ gia đình ly tán lần thứ 12 (11/05), họp cấp Bộ trưởng 2 miền lần thứ 17 (12/05), lần thứ 18 (4/2006)…

Quan hệ liên Triều ngưng trệ sau vụ Triều Tiên thử hạt nhân ngày 9/10/2006. Sau khi giai đoạn 3 vòng 5 đàm phán 6 bên về vấn đề hạt nhân Triều Tiên có tiến triển với việc thông quan Tuyên bố chung 13/2/2007, hai miền đã tổ chức Hội đàm cấp Bộ trưởng liên Triều lần thứ 20 (28/2 - 2/3/2007) tại Bình Nhưỡng, ra Thông cáo báo chí chung 6 điểm, trong đó thỏa thuận sẽ bàn và giải quyết tất cả các vấn đề liên quan đến quan hệ 2 miền; khẳng định sẽ cùng nỗ lực để thực biện suôn sẻ Thoả thuận 13/2. Hai bên thoả thuận sẽ tích cực có các biện pháp cụ thể nhằm thực hiện hoà giải và đoàn kết dân tộc như tổ chức Đại lễ hội thống nhất tổ chức tại hai nước nhân kỷ niệm ngày 15/6 và 15/8, tổ chức gặp trực tiếp gia đình bị ly tán, thúc đẩy việc xây dựng Trung tâm gặp gỡ cho các gia đình bị ly tán; mở lại các hoạt động nhân đạo qua hội đàm giữa Hội chữ thập đỏ hai miền lần thứ 8 (10-12/4/2007); mở rộng hợp tác kinh tế; họp Uỷ ban xúc tiến hợp tác kinh tế liên Triều lần thứ 13 tại Bình Nhưỡng từ 18-21/4/2007; vận hành thử tuyến đường sắt liên Triều, …

Về kinh tế, Hàn Quốc hiện là bạn hàng lớn thứ hai của Triều Tiên, kim ngạch buôn bán hai miền năm 2003 đạt gần 700 triệu USD. Năm 2004 Hàn Quốc là nước đứng đầu cho vay và viện trợ nhân đạo cho Triều Tiên. Hàn Quốc đã cho phép 13 công ty và 2 ngân hàng với số vốn 76 tỷ won vào hoạt động tại khu công nghiệp Khai Thành. Giao lưu nhân sự hai miền cũng được đẩy mạnh. Năm 2005, kim ngạch thương mại hai nước đạt 1,06 tỷ USD, tăng 51,5 % so với năm 2004. Kim ngạch thương mại hai miền 9 tháng đầu năm 2006 đạt 1,088 tỷ USD.

Hai bên đã thực hiện nhiều thoả thuận hợp tác trên các lĩnh vực vận tải biển, hợp tác nông nghiệp, công nghiệp nhẹ, hợp tác du lịch, phát thanh truyền hình, văn hoá, thể thao (hai miền nhất trí thi đấu trong cùng một đội hình tại Á vận hội 2006 và Olimpic 2008)…

VI- QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM :

1) Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao: 31/01/1950

2) Những mốc lớn trong quan hệ hai nước:

Các chuyến thăm Triều Tiên của lãnh đạo Việt Nam:

- Ngày 08-12/7/1957: Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm hữu nghị chính thức Triều Tiên.

- Tháng 6/1961: Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm hữu nghị chính thức Triều Tiên.

- Ngày 09/9/1988: Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công dự Quốc khánh Triều Tiên và trao Huân chương Sao vàng cho Chủ tịch Kim Nhật Thành.

- Tháng 5/1997: Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm thăm Triều Tiên, ký lại Thoả thuận hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao.

- Tháng 8/2000: Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên thăm Triều Tiên.

- Tháng 5/2002: Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm hữu nghị chính thức Triều Tiên.

- Tháng 12/2003: Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc của Quốc hội Tráng A Pao thăm Triều Tiên.

- Từ 14-17/7/2006: Trưởng Ban đối ngoại TW Đảng Nguyễn Văn Son thăm Triều Tiên.

Các chuyến thăm Việt Nam của lãnh đạo Triều Tiên:

- Ngày 27/11-3/12/1958: Thủ tướng Kim Nhật Thành thăm chính thức Việt Nam.

- Tháng 01/1992: Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Kim Yong Nam thăm Việt Nam.

- Tháng 4/1996: Bộ trưởng chủ nhiệm Uỷ ban kinh tế đối ngoại Ly Sơng Te thăm Việt Nam.

- Tháng 4/1997: Phó Thủ tướng Công Chin The thăm Việt Nam.

- Tháng 3/2000: Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Triều Tiên Pec Nam Sun thăm Việt Nam.

- Tháng 4/2001: Uỷ viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội nghị nhân dân tối cao Triều Tiên Chuê The Bôc sang dự Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam.

- Tháng 7/2001: Chủ tịch Uỷ ban thường vụ Hội nghị nhân dân tối cao Triều Tiên Kim Yơng Nam thăm hữu nghị chính thức Việt Nam.

Hai nước đã ký nhiều Hiệp định quan trọng như: Hiệp định hợp tác văn hoá (11/1957), Hiệp định hợp tác KHKT (10/1958), Hiệp ước hữu nghị và hợp tác giữa nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và CHDCND Triều Tiên (1961), Hiệp định thương mại và hàng hải (12/1962), Hiệp định hỗ tương y tế (12/1966), Hiệp định miễn thị thực cho hộ chiếu ngoại giao và công vụ (9/1969), Hiệp định hợp tác vận tải hàng không dân dụng (1/1977), Hiệp định vận tải biển (03/5/2002); Hiệp định thương mại (03/5/2002); Hiệp định tương trợ tư pháp (03/5/2002); Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (03/5/2002); Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (03/5/2002).

3) Tình hình quan hệ hiện nay:

- Về chính trị: Hai bên duy trì trao đổi giao lưu nhân sự ở các cấp, các ngành.

- Về kinh tế: Uỷ ban Liên Chính phủ hợp tác kinh tế-khoa học kỹ thuật Việt Nam-Triều Tiên được lập lại tháng 9/2000; họp vòng thứ 4 tại Bình Nhưỡng từ 15-18/10/2001, vòng thứ 5 tại Hà Nội ngày 19-20/11/2003, vòng thứ 6 tại Bình Nhưỡng từ 27/8-2/9/2006.

- Kim ngạch xuất nhập khẩu qua một số năm như sau:

Năm 1993: Việt Nam xuất khẩu sang Triều Tiên trị giá 35.475 USD và nhập khẩu từ Triều Tiên trị giá 4,5 triệu USD; năm 1994: Việt Nam xuất 32.000 USD, nhập 13,896 triệu USD; năm 1995: Việt Nam xuất 2,186 triệu USD; năm 1996: Triều Tiên mua 2 vạn tấn gạo nhưng đến nay vẫn chưa thanh toán, cả gốc và lãi nay là 17 triệu USD. Từ đó tới nay hai nước hầu như không buôn bán với nhau.

Gần đây, Chính phủ ta đã tặng Triều Tiên: năm 2000, tặng 1000 tấn gạo; năm 2001: 5000 tấn gạo; năm 2002: 5000 tấn gạo; năm 2005: 1000 tấn gạo và 5 tấn cao su nguyên liệu.

- Hợp tác liên doanh: Giữa năm 1993 khánh thành giai đoạn 1 Nhà máy ươm tơ tằm (vốn khoảng 3,5 triệu USD) ở Hải Dương, với nguyên liệu do ta cung cấp và máy móc (nhập từ Nhật) do bạn cung cấp. Năm 1994, phía Việt Nam rút khỏi liên doanh, chỉ còn phía Triều Tiên kinh doanh độc lập. Năm 2001 Triều Tiên đã bán Nhà máy cho phía Việt Nam.

- Về văn hoá-giáo dục: Trong những năm 60-đầu 70: Triều Tiên đã giúp đào tạo hàng trăm sinh viên, cán bộ của ta. Hàng năm Bộ Văn hoá của Việt Nam đều cử đoàn nghệ thuật sang Triều Tiên dự Liên hoan nghệ thuật mùa xuân tháng 4 tổ chức hàng năm tại Bình Nhưỡng./.

Cập nhật ngày 21 tháng 6 năm 2007